Đóng góp ý kiến vào
Báo cáo tổng kết lý luận và thực tiễn
hai mươi năm đổi mới

 

            Được các đồng chí gửi cho đọc bản “Báo cáo tổng kết lý luận và thực tiễn 20 năm đổi mới” và mời góp ý kiến, tôi đã dành thời gian đọc kỹ, suy ngẫm xem có thể góp được gì vào nội dung hết sức quan trọng này.

            Là người có trải qua nhiều chặng đường trong sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng suốt 65 năm qua, cũng đã có một số năm chỉ đạo hoạt động kinh tế ở nhiều cương vị khác nhau, do đó, cũng phần nào có điều kiện đi đây đi đó, làm việc và tiếp xúc với bên ngoài, có dịp trao đổi với nhiều nhà lãnh đạo của một số nước, tôi cũng tích luỹ được một số hiểu biết, một số kinh nghiệm. Trong vài ba năm gần đây, tuy rời khỏi những vị trí trách nhiệm được Đảng và Nhà nước phân công, song tôi chỉ “rời nhiệm sở” chứ không rời trách nhiệm của người đảng viên đối với sự nghiệp của Đảng và của nhân dân ta. Với ý thức trách nhiệm và tính chiến đấu của người cộng sản, tôi vẫn cố gắng cống hiến phần đời còn lại cho sự nghiệp lớn của chúng ta. Vì vậy, tôi vẫn cố gắng đi đến những nơi mà mình còn có thể đến được, nắm bắt thực tế để có thể góp phần của mình một cách thiết thực và cụ thể vào công tác của Đảng, trao đổi về công việc với các đồng chí vốn đã từng làm việc với tôi ở các địa phương và các ngành. Tôi cũng dành thời gian tiếp xúc với nhiều anh chị em hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá, khoa học, nghệ thuật... để lắng nghe những ý kiến tâm huyết của họ, giúp chuyển tải những ý kiến đóng góp của họ đến những nơi cần thiết.

            Chính vì thế, tôi vẫn có được những thông tin giúp mình suy nghĩ, cân nhắc để hôm nay có thể thẳng thắn và chân thành trao đổi với các đồng chí đang làm công tác tổng kết về lý luận và tổng kết về hoạt động thực tiễn, một công tác mà theo nhận thức của tôi, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta, đối với sự nghiệp của nhân dân ta trước những thách đố gay gắt chưa có tiền lệ, cũng như trước những vận hội cần phải nắm lấy, không thể để tuột khỏi tay mình. Để cho công tác tổng kết lý luận và tổng kết hoạt động thực tiễn có thực chất, có ý nghĩa trực tiếp và lâu dài đối với sự nghiệp của Đảng ta và của nhân dân ta, cần xác lập một thái độ trung thực và có trách nhiệm, dám nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật như Đại hội VI đã lấy đó làm phương châm để mở đầu cho sự Đổi Mới.

            Trên tinh thần đó, tôi xin thẳng thắn trình bày những ý kiến của mình về nội dung của báo cáo tổng kết và đưa ra những kiến nghị, ý kiến của một cá nhân, tất nhiên có những hạn chế của nó. Nhưng nếu trên tinh thần dân chủ và minh bạch trong tranh luận, ý kiến đó được đưa ra trao đổi (phạm vi trao đổi, đương nhiên phải do tổ chức quyết định) một cách thật mạnh dạn, trung thực và chấp nhận sự tranh luận cởi mở và thật sự dân chủ, thì chắc sẽ gặt hái được nhiều kết quả thiết thực và bổ ích, thúc đẩy công tác lý luận đổi mới về nội dung và phương pháp khắc phục tình trạng “chưa theo kịp sự phát triển và yêu cầu của cách mạng”, “còn không ít vấn đề cụ thể đặt ra từ thực tiễn chưa có lời giải đáp hoặc giải đáp chưa đủ sức thuyết phục”, “phương pháp tư duy chưa vươn tới tầm biện chứng, còn dừng lại ở trình độ cảm tính, ở chủ nghĩa kinh nghiệm hoặc thực dụng” như Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 5 BCHTƯ khoá IX đã chỉ ra. Nghị quyết cũng đã lưu ý rằng: “những yếu kém bất cập nêu trên là do chưa đặt đúng mức việc chỉ đạo đổi mới nội dung, phương pháp công tác tư tưởng, lý luận trong giai đoạn mới”.

            Tôi mong rằng, bằng những hành động thiết thực trong tổ chức trao đổi và góp ý kiến vào Bản tổng kết lần này, tinh thần cơ bản của nghị quyết nói trên sẽ được thực hiện một cách nghiêm túc và có chất lượng. Trên ý nghĩa đó, tôi sẽ trình bày những ý kiến và kiến nghị của tôi về những vấn đề sau đây:

 

Một số ý kiến về nội dung tổng kết lý luận

 

             Trước hết tôi thấy đáng ghi nhận là trong bản tổng kết này các đồng chí đã cố gắng xới lên rất nhiều vấn đề, trong đó có nhiều vấn đề rất phức tạp, khá hóc búa cả về lý luận cũng như về thực tiễn, mà trước đây hoặc chúng ta chưa đề cập tới, hoặc đề cập không thấu đáo, thậm chí lệch lạc. Đó là ưu điểm và cũng là một bước tiến của bản tổng kết này so với nhiều bản tổng kết trước đây.

            Tuy nhiên, trong bản góp ý này, tôi sẽ không đi sâu vào những ưu điểm. Thiết nghĩ hữu ích hơn là lưu ý một số khía cạnh, một số vấn đề để các đồng chí tham khảo và hoàn thiện bản tổng kết tốt hơn.

            Chúng ta biết, sau một chặng đường dài phát triển, Đại hội X sắp tới mang một sứ mệnh rất nặng nề là : lái con thuyền Việt Nam như thế nào trong dòng chảy lớn của sự phát triển thế giới trước mắt. Bây giờ chúng ta không thể chỉ đặt ra vấn đề của Việt Nam như chuyện trong nhà, mà là chuyện ganh đua với thế giới để tồn tại và phát triển.

            Một lần nữa, thử thách lớn của lịch sử lại đặt ra trước Đảng ta. Sau khi làm cách mạng thành công, rồi tiến hành chiến tranh giải phóng, mở cửa và đổi mới, đến nay nước ta đứng trước một thách đố mới : phát triển nhanh và bền vững, hội nhập trong độc lập, đi tiếp trong nhịp chung của thế giới, làm sao không vấp ngã, không tụt hậu. Cuộc thách đố này trước hết đòi hỏi một sự bứt phá mạnh dạn về tư duy, về đường lối, về tổ chức, trong đó đặc biệt quan trọng là tổ chức Đảng và Hệ thống chính trị, về chính sách và biện pháp. Vì thế, vấn đề không chỉ đơn giản là nói như thế nào để mọi người vừa lòng, mà là vạch đường chỉ lối, tìm ra giải pháp tối ưu cho đất nước, cho dân tộc, cho chính Đảng ta.

            Theo tinh thần đó, tôi xin đi thẳng vào mấy khía cạnh sau đây :

 

I.  Cần đổi mới và làm rõ một số khái niệm được
sử  dụng trong báo cáo tổng kết

 

Trong bản tổng kết còn sử dụng khá nhiều khái niệm và thuật ngữ như một thói quen từ nhiều thập kỷ trước. Trong hoàn cảnh mới, với những kinh nghiệm lịch sử mà chúng ta nếm trải, thì cần nhìn lại những khái niệm đó một cách đầy đủ hơn, sâu sắc hơn. Nhưng trong bản báo cáo này những khái niệm đó được coi như chuyện đương nhiên, không được phân tích, phê phán, không làm sáng tỏ thêm nội hàm, mà hầu như giữ nguyên như cũ cách nhìn, cách định hình đã có trước đây rồi đưa vào hệ thống quan niệm hiện nay của chúng ta. Có lẽ phải bắt đầu từ việc đổi mới trong tư duy về một số khái niệm đó. Tôi nghĩ, đây là việc không đơn giản, nhưng nhất thiết không được bỏ qua, lảng tránh một đòi hỏi có tính  bức thiết và có ý nghĩa khởi đầu công tác lý luận. Vì như chúng ta đã từng xác định, để tiến tới Đại hội X, đánh dấu một cái mốc quan trọng cho sự bứt phá vươn lên của đất nước ta, đẩy lùi nguy cơ tụt hậu so với khu vực và thế giới, chúng ta phải nhìn lại chặng đường đã qua và định hướng cho chặng đường sắp tới.

            Để hoàn thành nhiệm vụ đó, có một loạt khái niệm cần được xem xét lại, kỹ hơn, sâu hơn, cần phải rà soát lại nội dung của từng khái niệm đó.

            Dưới đây là ví dụ cụ thể :

            1. Từ bao nhiêu năm nay, lúc nào chúng ta cũng khẳng định rằng Chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng, là kim chỉ nam của cách mạng Việt Nam. Chưa bao giờ chúng ta chủ trương làm trái chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng tại sao chúng ta vẫn mắc nhiều sai lầm ? Nếu có một kim chỉ nam trên tay, thì khó có thể lạc hướng. Nhưng tại sao vẫn có những giai đoạn lạc hướng. Điều đó chứng tỏ rằng chúng ta không đọc được những mã số của nó. Vậy vấn đề bây giờ không còn là nêu lên những khái niệm chung chung, mà phải xác định rõ nội hàm của những khái niệm đó.

            2. Về chủ nghĩa Mác-Lênin, lâu nay không có một đảng cộng sản hay công nhân nào nói rằng không đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin, không kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin. Nhưng mỗi đảng đi theo một con đường khác nhau, đảng này lại còn phê phán đảng kia là làm sai những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin. Vậy là có nhiều cách hiểu về chủ nghĩa Mác-Lênin.

            Cách hiểu nào là đúng? Hai mươi năm trước, đầu thời đổi mới, chúng ta đã từng nêu ra là cần phải có nhận thức đúng về chủ nghĩa Mác-Lênin và đã tiến hành nghiên cứu, phân tích xem trong chủ nghĩa Mác-Lênin điều gì trước đây đúng và đến nay vẫn đúng, điều gì trước đây đúng nhưng nay không còn phù hợp nữa, điều gì ngay từ trước đã có sai sót, điều gì chưa có cần bổ sung và phát triển.

            Công việc rất quan trọng trên đây chưa hoàn thành và có phần bị ngừng lại giữa chừng. Nhiều quan niệm cũ lại tiếp tục chi phối.

            3. Tư tưởng Hồ Chí Minh rất đa dạng, rất phong phú và sâu sắc. Xưa nay, chưa bao giờ có ai trong chúng ta nói rằng không theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng trong thực tế ở rất nhiều nơi và đã rất nhiều lúc chúng ta vi phạm nghiệm trọng tư tưởng của Bác Hồ: đối với công thương gia, đối với trí thức, với các thân hào thân sĩ, đối với các công chức lưu dụng, đối với việc tôn trọng quyền tự nguyện của nông dân, đối với việc phê và tự phê trong Đảng, đối với chính sách đại đoàn kết dân tộc, đối với sự thẳng thắn phê bình của Đảng trước nhân dân ....

            Đã có nhiều công trình nghiên cứu rất tốn kém về chủ để tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng hình như cũng chưa công trình nào nhìn nhận một cách thẳng thắn xem chúng ta đã từng vận dụng đúng đắn tư tưởng gì của Bác Hồ và đã vi phạm những gì trong tư tưởng của Người. Nếu không làm rõ việc đó thì khó xác định được những tư tưởng nào làm chỗ dựa cho chúng ta trong chặng đường đi tiếp, mà rất có thể sẽ tiếp tục tình trạng lúc nào cũng nói rất hùng hồn là trung thành, là đi theo, là nắm vững, thậm chí còn tổ chức cả cuộc thi viết báo cáo viên giỏi về tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng có gì đảm bảo được rằng chúng ta không tiếp tục phạm sai lầm, làm trái với tư tưởng đó? Đã có công trình nghiên cứu nào tiến hành nghiên cứu một cách trung thực, khách quan và với phương pháp khoa học để đánh giá được thực chất những hoạt động và cách tuyên truyền, cổ động nói trên chưa?

            4. Về giai cấp công nhân Việt Nam, chúng ta thường nói như một công thức rằng Đảng Cộng sản là đội tiền phong của giai cấp công nhân. Nhưng cho đến nay, khái niệm giai cấp công nhân được xác định như thế nào ? Giai cấp công nhân hiện nay so với giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ Pháp thống trị, giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ khác nhau ở chỗ nào ? Trong điều kiện kinh tế tri thức, kinh tế thị trường, thì giai cấp công nhân có những đặc điểm gì mới, thái độ chính trị thế nào, lòng căm thù giai cấp, sức chiến đấu giai cấp có khác gì trước ? Ngày nay không còn có thể tiếp tục nói chung chung về giai cấp công nhân Việt Nam. Hiểu về một giai cấp không rõ, thì khó thấy, khó biết được đội tiền phong của giai cấp đó là gì và phải làm gì.

            Ngay cả khi nhiệt tình cách mạng là có thật, thì chúng ta vẫn cần nhớ rằng : Lênin đã từng nhắc đến một kiểu người đang đứng trong đội ngũ cách mạng song đang làm hại cách mạng bởi : “Nhiệt tình cách mạng cộng với dốt nát bằng sự phá hoại”. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội của chúng ta, đã có không ít trường hợp sự nghiệp phát triển kinh tế bị “phá hoại” bởi những loại nhiệt tình như vậy.

            5. Bác Hồ đã nói rõ trong Đại hội II, “vì Đảng là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động cho nên Đảng phải là Đảng của dân tộc”. Đó là một tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh. Chúng ta có theo tư tưởng ấy của Hồ Chí Minh không ?

            Nếu không làm rõ những khái niệm và tư tưởng trên đây, cứ lẩn tránh thì chúng ta lại tiếp tục sử dụng những cách xác định mơ hồ, chung chung, dựa vào một kim chỉ nam mơ hồ, làm sao tránh được những sai lầm như trước đây chúng ta đã mắc, và rất có thể lại như trước đây, nói một đường, thực tế làm một nẻo. Thực tế là trong một thời gian khá dài, Đảng dường như không phải là của giai cấp công nhân hiện nay. Những gì mà chúng ta dạy, chúng ta nói về bản chất tốt đẹp của giai cấp công nhân mà Đảng là tiêu biểu đã dần mất đi nhiều. Giai cấp công nhân trong thực tế không biết và không có quyền được biết đội tiên phong của mình đang làm gì.

            6. Về công thức Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, chúng ta cũng đã từng đưa ra từ rất lâu, ngày nay vẫn được nhắc lại như cũ. Nếu không làm rõ nội hàm của những mối quan hệ đó thì vẫn lâm vào tình trạng nói một đường, làm một nẻo. Chúng ta tiếp tục lúng túng và khó tránh khỏi sẽ lại phạm vào những sai lầm trong việc đảm bảo quyền làm chủ thực sự của nhân dân, trong khi thường xuyên nói đến cái công thức kể trên như một cách để nói, chứ không phải nói để làm, nói vậy mà không phải vậy. Thực chất nội dung của công thức đó chính là đảm bảo được dân chủ trong Đảng, xây dựng được Nhà nước pháp quyền vững mạnh, phát huy quyền tự do dân chủ của mọi công dân đã được qui định trong Hiến pháp của Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

            7. Trong bản báo cáo, có rất nhiều chỗ đã sử dụng khái niệm “tránh chệnh hướng”. Đây cũng là một khái niệm thường xuyên được sử dụng, song nội dung của nó thì lại được vận dụng rất tuỳ tiện, thậm chí thô thiển và thô bạo khi dựa vào một nội dung có phần mơ hồ, thiếu xác định để thực thi thói quen độc quyền chân lý, áp đặt tư duy, tuỳ tiện quy kết. Vấn đề thực ra có thể là rất cụ thể và sòng phẳng: Trên chặng đường trước mắt, thế nào là hướng và thế nào là chệch?

            Kinh nghiệm lịch sử đã cho chúng ta thấy rằng có rất nhiều trường hợp, một giải pháp từng bị coi là chệch hướng trong một thời gian dài, nhưng sau này lại thấy là đúng. Nhiều giải pháp coi là đúng hướng, thì lại vấp phải ách tắc, thất bại. Thí dụ: Khi tiến hành cải tạo tư sản, những người muốn chủ trương duy trì kinh tế nhiều thành phần đều đã từng bị coi là đi chệch hướng. Việc xoá bỏ thành phần kinh tế tư nhân lúc đó được coi là đúng hướng. Khi tiến hành hợp tác hoá, ai muốn duy trì thích đáng kinh tế nông dân cá thể cũng bị coi là chệch hướng. Làm ăn tập thể, đưa các hợp tác xã lên cấp cao (một cách gò ép), đi vào kế hoạch Nhà nước tập trung, thu mua theo giá Nhà nước và theo chỉ tiêu của Nhà nước đã từng được coi là con đường duy nhất đúng hướng. Sau một thời gian dài, phải trả giá rất nhiều, sự đúng hướng đó đi vào ngõ cụt đến mức không có khả năng đi tiếp theo cái “đúng hướng” đó nữa, thì mới tỉnh ngộ ra và mới thừa nhận rằng những điều tưởng là đúng hướng lại là chệch, và cái tưởng là chệch lại là đúng, mà hiện nay chúng ta đang đi theo. Vậy thì trong số những cái đang được gọi là đúng hướng và chệch hướng mà chúng ta dự kiến trước mắt, có những căn cứ khoa học nào để xác định, hay vẫn chỉ là những vũ đoán duy ý chí và tuỳ tiện. Tất cả những vấn đề đó cần phải nghiên cứu rất kỹ, không thể khẳng định chung chung, nếu không chúng ta rất dễ gặp lại những ách tắc, trì trệ, đồng thời rất dễ làm thui chột đi những sáng kiến, những khai phá để mở ra con đường phát triển.

            8. Về khái niệm diễn biến hoà bình cũng vậy. Cho đến nay, tình hình thế giới thay đổi rất nhiều. Những nước phương Tây điều chỉnh chủ trương, chính sách và biện pháp của nó hàng tháng, hàng năm. Không nên dùng một khái niệm chung chung, trừu tượng như thế để lượng định những nguy cơ từ phía các nước phương Tây.

            Theo tôi hiểu và qua trao đổi với những người bạn quốc tế, đặc biệt là một vài người bạn có lúc ở cùng cảnh ngộ với ta trong khối ASEAN đã hoặc đang ở trên những cương vị lãnh đạo cho phép họ nhìn nhận vấn đề một cách tỉnh táo và khách quan xuất phát từ bài học kinh nghiệm của chính họ và dân tộc họ đã trải qua, trao đổi với nhiều anh chị em trí thức trong nước và ở nước ngoài có hiểu biết và nhất là có sự tha thiết muốn góp phần vào sự phát triển đất nước, người ta nói với tôi rằng: hiện nay, trong các chiến lược của các nước phương Tây không còn mấy ai dùng đến khái niệm diễn biến hoà bình đối với các nước xã hội chủ nghĩa.

            Bối cảnh của tình hình mới mà chúng ta đang phải đương đầu là cực kỳ phức tạp. Những thế lực thù địch trăm phương nghìn kế phá hoại sự nghiệp của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, trong đó, có những thủ đoạn cực kỳ thâm hiểm và tinh vi. Đề cao cảnh giác và luôn luôn nâng cao tinh thần cảnh giác trong cán bộ, đảng viên và nhân dân ta là nhiệm vụ thường trực của chúng ta. Song nội dung của tinh thần cảnh giác đó cũng không thể cực đoan, một chiều theo cách phân tích địch ta quá đơn giản và thiếu nhạy bén chính trị, mà phải luôn luôn có cái nhìn toàn cuộc, nhìn rõ thế và lực của ta hiện nay, cũng như hiểu cho sâu mối tương tác giữa các thế lực ở khu vực và trên thế giới. Khái niệm “diễn biến hoà bình” mà ta đang thường xuyên sử dụng chưa thể hiện đủ tinh thần cảnh giác đó, ngược lại, có thể làm biến dạng ý thức cảnh giác, gây nên những phản cảm làm trở ngại cho chính việc nâng cao tinh thần cảnh giác. Tôi nghĩ, chúng ta phải thật tỉnh táo nhìn nhận lại vấn đề này, nhất là khi chúng ta đã dõng dạc tuyên bố với thế giới: Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, muốn là đối tác đáng tin cậy của tất cả mọi người.

            Đây sẽ là một vấn đề rất gay cấn trong tranh luận, song không thể lảng tránh việc đặt lên bàn nghị sự để bàn luận cho ráo riết, ra bắp ra khoai.

            9. Về thái độ và quan hệ giữa các thành phần kinh tế, chúng ta vẫn tiếp tục nói như một thói quen : Một mặt nói rằng xoá mọi sự phân biệt giữa các thành phần kinh tế, đồng thời luôn luôn qui định kinh tế nhà nước phải là chủ đạo. Nếu đã qui định trước cái gì là chủ đạo, thì sao có thể nói được rằng mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng ? Kinh tế nhà nước hiện nay rất yếu kém, nhiều khuyết tật. Một nền kinh tế nhiều thành phần, mà thành phần nhiều khuyết tật nhất, kém hiệu quả nhất lại là chủ đạo. Vậy thì nền kinh tế đó sẽ phát triển như thế nào và đi vào cuộc đua với thế giới này như thế nào ? Những vấn đề đó chúng ta chưa phân tích đến nơi đến chốn, chỉ nhắc lại công thức như một thói quen để làm hài lòng những tư duy đường mòn bảo thủ, vừa muốn giữ lại cái cũ làm chỗ dựa, vừa bất lực trong việc giúp cho nền kinh tế được phát triển tối ưu.

            10. Khi nói về những tệ nạn trong xã hội và vấn đề phẩm chất của Đảng viên, báo cáo vẫn chỉ nhắc lại những căn bệnh cố hữu là tham nhũng, quan liêu, phẩm chất sa sút. Đó quả là một nguy cơ lớn. Nhiều Đảng đã tan rã vì căn bệnh này. Nhưng đến lúc này thì sẽ là hoàn toàn không đủ nếu chỉ nhắc lại chung chung rằng đang có những căn bệnh đó. Phải chỉ ra những nguyên nhân sâu xa của căn bệnh, trên cơ sở đó phải chỉ ra những biện pháp để sửa chữa, đây là điều quan trọng hơn. Bây giờ không còn là chuyện chẩn bệnh, mà phải mổ xẻ để tìm ra nguyên nhân và cách chữa.

            Nói về sa sút phẩm chất đảng viên, cần chỉ ra sự khác biệt hết sức cơ bản về vị trí và hình thức hoạt động khi Đảng là Đảng cầm quyền trong xây dựng đất nước ở thời bình so với thời kỳ hoạt động bí mật và hoạt động công khai trong thời chiến. Khi nắm quyền lực trong tay, khi ngồi trên ghế quyền lực (Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị), nếu không có ý thức tu dưỡng rèn luyện phẩm chất của người cộng sản, nhất là Đảng không có cơ chế phù hợp để kiểm tra, kiểm soát phẩm chất đảng viên, thì sự tha hoá trong không ít đảng viên có chức, có quyền là điều không thể tránh khỏi. Cơ chế phù hợp đó chỉ có thể được xây dựng và thực thi trên căn bản nguyên tắc của Đảng được qui định rõ trong điều lệ của Đảng phải được nghiêm chỉnh chấp hành. Đáng tiếc là, trong một thời gian dài, một số nguyên tắc cơ bản đó đã bị vi phạm ngày càng trầm trọng. Rõ nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ trong xây dựng Đảng, trong sinh hoạt Đảng, trong triển khai mọi hoạt động công tác của Đảng. Chỉ xin nêu một ví dụ dễ thấy nhất về sự vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng: đó là cách tổ chức và triển khai Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng.

            Cách tổ chức và triển khai ấy, trên thực tế đã làm giảm sút, rồi đi đến vi phạm một nội dung mấu chốt và cực kỳ quan trọng của Điều lệ Đảng, chi phối toàn bộ công tác tổ chức, sinh hoạt Đảng và các hoạt động lãnh đạo của Đảng trên mọi lĩnh vực: “Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên. Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi cấp là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp uỷ)”.

            Qui hoạch để đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và đề bạt cán bộ là công việc cần thiết, phải tiến hành thường xuyên và đương nhiên phải thể hiện trong quá trình chuẩn bị và tiến hành đại hội các cấp cho đến Đại hội toàn quốc của Đảng. Trong quá trình quy hoạch và bố trí cán bộ thì việc sắp xếp nhân sự cho bộ máy của Đảng ở các cấp phải có cơ cấu hợp lý cũng là chuyện tất yếu. Song “cơ cấu” không đồng nghĩa với việc tuỳ tiện vi phạm Điều lệ Đảng khiến cho trên thực tế gần như đại hội chỉ còn là thủ tục, khiến cho sức mạnh của Đảng bị giảm sút vì sự chọn lọc, tuyển lựa cán bộ để đưa vào các cấp uỷ không công khai, minh bạch, trong quá trình dân chủ thảo luận của đại hội các cấp. Vì thiếu dân chủ cho nên sự tập trung đã trở thành tập trung quan liêu, dẫn tới sự chuyên quyền, độc đoán của một số tập thể nhỏ.

            Đây chính là nguy cơ dẫn tới sự suy yếu của tổ chức Đảng và sự sa sút phẩm chất đảng viên. Hệ quả của nó lá sự bị động tuỳ thuộc của cấp dưới tuân theo mọi quyết đoán từ bên trên, tạo ra tâm lý lựa gió xoay chiều cốt cho được việc theo ý của trên. Sự dối trá cũng khởi nguồn từ đây. Căn bệnh hình thức phô trương, bệnh thành tích phát triển từ đây. Sự tha hoá, biến chất của không ít cán bộ, đảng viên dẫn tới sự suy yếu của tổ chức Đảng, đánh mất lòng tin của quần chúng đối với Đảng.

            Thực trạng này đang diễn ra nghiêm trọng, không thể không nghiêm khắc vạch ra để tìm cách khắc phục. Mà giải pháp cơ bản nhất là trở lại với nguyên tắc của Đảng, kiên quyết thực hành dân chủ trong sinh hoạt Đảng, từ mở rộng dân chủ mà thực hiện sự tập trung. Có dân chủ thì mới có tập trung, và tập trung trên nền tảng dân chủ sẽ không là tập trung quan liêu dẫn đến chuyên quyền vượt mọi quyền hạn và quy định của Điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước.

            Trở lại với nguyên tắc Đảng cũng có nghĩa là thực hiện “Tư tưởng Hồ Chí Minh” về xây dựng Đảng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, bồi dưỡng ý chí cách mạng và phẩm chất cộng sản cho từng đảng viên, từ cơ sở cho đến Trung ương. Đây chính là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp của Đảng ta hiện nay. Làm thế nào trong nội dung tổng kết về lý luận phải dành phần thích đáng cho công tác xây dựng Đảng. Thực ra thì cũng đã có nghị quyết về vấn đề này. “Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt”, là điều thường xuyên được nêu lên trong các diễn văn, các báo cáo, trên các phương tiện truyền thông, cấn có sự tổng kết nghiêm túc.

       

II. Mấy vấn đề về phương pháp tư tưởng

            Tất cả những vấn đề kể trên, suy cho cùng, là những biểu hiện cụ thể của phương pháp tư tưởng. Nghĩ cho kỹ, thì phương pháp tư tưởng của Đảng đã và đang quyết định đường lối, chủ trương, chính sách và biện pháp đúng hay sai. Nhìn lại toàn bộ lịch sử đấu tranh của Đảng ta, bằng những trải nghiệm của bản thân mình trong 65 năm chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng, có dịp tĩnh tâm suy nghĩ và tự tìm tòi, phân tích, tôi hiểu được rằng, suy cho cùng, những thành tựu cũng như những thất bại mà Đảng gặp phải, dường như phụ thuộc vào hai loại phương pháp tư duy khác nhau.

            Trong nhiều giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam, phương pháp tư duy “tả khuynh”, chủ quan, duy ý chí đã từng giữ vai trò chủ đạo. Chỉ khi nào phương pháp tư duy đó vấp phải những khó khăn, thất bại thì nó mới tạm thời rút lui, để luồng tư duy khách quan, giàu trí tuệ đóng vai trò chỉ đạo, sửa chữa sai lầm và khắc phục hậu  quả. Đó chính là những giai đoạn chúng ta đạt được những thành công rực rỡ trong đấu tranh cách mạng cũng như trong phát triển kinh tế.

            Thử điểm lại các giai đoạn lịch sử, thấy rất rõ diễn biến đó.

* Thời kỳ mới thành lập Đảng, xu hướng “tả khuynh” đã là một động cơ của Xô Viết Nghệ Tĩnh và dẫn tới thất bại, lực lượng Đảng bị tổn thất nghiêm trọng. Từ sau đó, Nguyễn Ái Quốc định hướng cho Đảng, đến khi có thắng lợi của Mặt trận Dân chủ Đông Dương để phục hồi sức mạnh của Đảng. Từ đó, Đảng lại phát triển.

* Đến Nam Kỳ khởi nghĩa, lại một xu hướng manh động, “tả khuynh” đã dẫn tới thất bại nghiêm trọng và lực lượng của Đảng bị tổn thất rất nặng nề.

* Bác Hồ về Pác Bó, cũng vừa là lúc có chủ trương khởi nghĩa non, Bác đã kịp thời ngăn chặn lại. Bác điều chỉnh lại đường lối, chủ trương, xây dựng mặt trận Việt Minh, sử dụng mọi lực lượng để phát triển phong trào cách mạng, mở các lớp học, phát triển phong trào tới mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng vùng giải phóng, không manh động, không nhấn mạnh nội dung giai cấp. Từ đó phong trào cách mạng phát triển rất mạnh và dẫn tới Cách mạng tháng Tám thành công.

* Trong kháng chiến chống Pháp, với chủ trương đại đoàn kết do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xướng, Đảng ta đã huy động được sức mạnh toàn dân, không những kháng chiến thắng lợi mà kiến quốc cũng thành công. Cứ nhìn vào thành phần Chính phủ kháng chiến do Bác Hồ đứng đầu cũng thấy rõ được tầm nhìn xa trông rộng của người lãnh tụ nhân dân. Có thể nói, mãi về sau nay, tuy sự nghiệp cách mạng ngày càng tiến triển thuận lợi, nhưng chưa bao giờ sự tập hợp và phát huy lực lượng nhân sĩ, trí thức lại được rỗng rãi và giàu sức thuyết phục như cách Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm. Kế tục được bài học của Bác Hồ, trong cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, Xứ uỷ Nam Bộ và sau đó là Trung ương cục do đồng chí Lê Duẩn đứng đầu đã biết cách tập hợp lực lượng, phát huy được vai trò của các tầng lớp nhân sĩ trí thức ngoài Đảng đi kháng chiến cùng các tầng lớp nhân dân khác, gây được tiếng vang, góp phần to lớn vào sự nghiệp kháng chiến. Thế nhưng, bài học lớn đó rồi không được tiếp tục mở rộng ra trong quá trình phát triển của các giai đoạn sau.

* Từ 1951 trở đi, xu hướng “tả khuynh” lại có chiều phát triển mạnh do sự tác động của các chuyên gia Trung Quốc. Kết quả là chỉnh đốn tổ chức và cải cách ruộng đất đã làm cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân ta gánh chịu những tổn thất vô cùng nặng nề. Chính từ bài học cay đắng đó, cùng với việc xử lý kỷ luật một số cán bộ cao cấp của Đảng, xu hướng “tả khuynh” lại tạm thời lắng xuống. Hội nghị lần thứ 11 của Trung ương khoá II tháng 12 năm 1956 của Đảng đã phê phán thẳng thắn xu hướng “tả khuynh” này.

* Từ đó, kinh tế dần dần phục hồi, nội bộ Đảng được củng cố, những vết thương của sai lầm dần dần được hàn gắn. Chính đây là thời kỳ kinh tế miền Bắc phát triển tốt nhất. Nhưng sau đó không bao lâu, xu hướng “tả khuynh” trỗi dậy đẩy tới những cuộc cải tạo ồ ạt đối với công thương nghiệp và nông nghiệp. Kết quả thế nào thì chúng ta đều biết. Khắc phụ cho được hậu quả của đường lối “tả khuynh”, giáo điều đó khó khăn như thế nào thì cũng đã là bài học cho tất cả chúng ta.

* Sau khi giải phóng miền Nam, đã từng có nhiều bộ óc suy nghĩ về việc duy trì một nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế mở, hợp tác quốc tế, sử dụng thị trường. Nhưng sau đó không lâu, với Đại hội IV, xu hướng “tả khuynh”, chủ quan duy ý chí lại thắng thế để đưa ra những quyết định về đường lối và chủ trương sai. Cải tạo công thương nghiệp ồ ạt, cải tạo nông nghiệp vội vã, cải tạo sỹ quan của chính quyền cũ kéo dài quá lâu, đưa dân đi kinh tế mới bằng biện pháp cưỡng bức .... Đó là những nguyên nhân chính dẫn tới khủng hoảng và ách tắc, gây những thiệt hại rất lớn cho kinh tế kể từ 1977 trở đi. Thật là đau đớn khi nghĩ lại, sự nghiệp giải phóng dân tộc được hoàn thành trọn vẹn, thành phố Sài Gòn và nhiều thành phố khác ở miền Nam vẫn còn nguyên kết cấu hạ tầng và tiềm năng về kinh tế hàng hoá, thế nhưng hàng vạn người phải bỏ nước ra đi. Hiện tượng “di tản”, “thuyền nhân” cần được nhìn nhận như là những vết thương trên cơ thể đất nước, để lại những di chứng trong tâm hồn của không ít đồng bào ta.

* Khi nền kinh tế và đời sống của nhân dân đã đi đến cùng cực thì những quan điểm giáo điều, “tả khuynh” mới bộc lộ rõ tính bất lực của nó. Đến lúc đó thì những tư duy khách quan, trí tuệ, tỉnh táo hơn đã cứu vớt từng mảng của nền kinh tế. Đó chính là những cuộc phá rào ở các cơ sở và phá rào trong cả đường lối, chính sách ở trung ương.

* Nhưng từ 1983, sau khi chỉ mới “hé” cửa, bung ra được một chút, xu hướng giáo điều “tả khuynh” lại muốn gò lại nền kinh tế, với nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 của Trung ương khoá V, lập lại kỷ cương trong phân phối lưu thông, hàng loạt MEX đã bị dẹp bỏ, tình trạng ngăn sông cấm chợ lại xuất hiện, cơ chế kế hoạch hoá quan liêu bao cấp lại có xu hướng phục hồi.

* Đến Đại hội VI, những khuyết tật của xu hướng bảo thủ duy ý chí đã được phê phán một cách gay gắt không kém gì Hội nghị lần thứ 11 của Trung ương năm 1956. Và nhờ đó, kinh tế lần lượt đạt được những bước tháo gỡ rất căn bản. Phải nói rằng, Đại hội VI của Đảng đánh dấu một bước phát triển đột phá trong tư duy lý luận của Đảng, mở đầu bằng đổi mới tư duy kinh tế. Nhờ bước đột phá về tư duy lý luận do dám nhìn thẳng vào sự thật, mạnh dạn nói lên sự thật, dũng cảm phân tích phê phán những sai lầm, nhất là bệnh giáo điều “tả khuynh”, đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng và kéo dài.

* Nhưng từ sau 1989, sau khi thu được những thắng lợi rất lớn về kinh tế, từ sự sụp đổ của Đông Âu và sau đó là sự sụp đổ của Liên Xô thì xu hướng giáo điều “tả khuynh” lại phục hồi. Thay vì từ sự sụp đổ của Đông Âu và Liên Xô mà rút ra bài học cho bản thân mình, nhằm đưa tới quyết tâm đẩy mạnh sự nghiệp Đổi Mới mạnh mẽ hơn, toàn diện hơn, triệt để hơn nhằm khắc phục những khuyết tật của mô hình kế hoạch hoá tập trung quan liêu và bao cấp dẫn đến sự suy kiệt của nền kinh tế vốn chứa đựng những tiềm năng có thể phục hồi và vươn lên sau 1975, mở rộng dân chủ để tạo ra sự đồng thuận xã hội mới làm động lực cho sự phát triển, lại tự thoả mãn với chính mình trong những luận điểm có phần tự mãn chủ quan là Đảng ta vững vàng về lập trường quan điểm nên mới giữ được thành tựu như đã có (không như Đông Âu và Liên Xô). Dưới cái vỏ bọc của lập trường, quan điểm đó, khuynh hướng “tả” đã dẫn đến sự co lại, kìm hãm tiến trình Đổi Mới mà Đại Hội VI đã khởi động. Hiện tượng chững lại đó trong một số lĩnh vực do được dẫn dắt bởi quan điểm nói trên đã khiến cho chúng ta không tận dụng được đúng mức những thời cơ để bứt lên, cải thiện tình hình kinh tế, thúc đẩy các hoạt động khác của đất nước. Đã xuất hiện quan điểm lo ngại Việt Nam tham gia vào ASEAN, bảo lưu ý kiến không tham gia năm 1995. Không ít những người tự coi là lập trường, quan điểm vững gây không ít cản trở cho sự phát triển bằng những lời phát biểu như: “coi chừng chệch hướng”, “đổi mới nhưng không đổi màu”, “hoà nhập mà không hoà tan” .... Hậu quả vô hình, không đo lường được đó còn kéo dài, chỉ phối cho đến nay khiến cho lợi thế cạnh tranh bị sút giảm, nhịp độ tăng trưởng chưa đáp ứng được đòi hỏi của sự phát triển của đất nước; khoảng cách tụt hậu ngay trong khu vực ASEAN rộng thêm.

Dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, phải chỉ ra được nguyên nhân và tác hại của phương pháp tư tưởng “tả khuynh”, giáo điều nói trên, tìm cách khắc phục nó, đó phải là công việc không thể lẩn tránh của công tác tổng kết và lý luận. Gợi lên những vấn đề nói trên, tôi muốn chúng ta cố gắng nhìn lại cả quãng đường Đảng ta đã đi qua, tìm ra nguyên nhân thực chất của những sai lầm đó.

Lưu ý đến đặc điểm này để khắc phục và tỉnh táo trước những nguy cơ vấp lại những sai lầm như đã từng vấp. Những vấp váp, trì trệ và sự chững lại trong tiến trình Đổi Mới, nguyên nhân của nguyên nhân có phải chính là xu hướng giáo điều “tả khuynh” vẫn còn tồn tại, muốn co kéo, kiềm chế những tiềm lực phát triển, nhưng lại mang danh nghĩa bảo vệ Đảng, bảo vệ Chủ nghĩa xã hội, chống chệnh hướng.

Công cuộc đổi mới 20 năm qua về thực chất không gì khác chính là sự khắc phục xu hướng này. Khi nào chúng ta nhận thức ra được hệ luỵ của tư tưởng “tả khuynh” và phê phán xu hướng đó thì cả kinh tế lẫn chính trị đều có bước khởi sắc. Khi nào xu hướng này trở lại thế lấn lướt thì sự lệch lạc và trì trệ lại bắt đầu. Về thực chất đó cũng chính là một sự chệch hướng, mà tác hại của nó không kém những chệch hướng khác. Đó là bài học kinh nghiệm lịch sử cần được mạnh dạn đặt ra và phân tích thật cặn kẽ và sâu sắc, đó chính là yêu cầu không thể lẩn tránh của công tác tổng kết.

 

III. Quan hệ giữa quyền lực và dân chủ,
giữa lợi ích chung và quyền uy riêng

Để khắc phục nguy cơ kể trên, vấn đề có ý nghĩa quyết định là ý chí cách mạng và lập trường kiên định của người cộng sản, đặc biệt là của đội ngũ lãnh đạo.

Ở trên đã nói tới nguy cơ của xu hướng bảo thủ, “tả khuynh”, trì trệ. Hiện nay xu hướng bảo thủ trì trệ xét về số lượng thì không nhiều và tự nó khó có thể là một nguy cơ. Đối trọng với xu hướng đó, những bộ óc có xu hướng đổi mới đúng đắn, muốn bứt phá khỏi những gánh nặng cũ, là một lực lượng không nhỏ. Tôi không tin rằng Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban chấp hành Trung ương của ta hiện nay không đủ sáng suốt để nhận thức được những gì cần phải làm trong thời gian trước mắt, những gì đang là trở ngại cần phải được khắc phục trên con đường tiến tới. Nhưng vấn đề ở đây không phải chỉ là chuyện của nhận thức, mà là những quan hệ giữa quyền lực và quyền uy.

Quyền lực khác với quyền uy. Về nguyên tắc thì những đồng chí chính thức được Đảng và nhân dân giao phó trọng trách điều hành và quyết định những vấn đề lớn thuộc về vận mệnh quốc gia là những người được trao quyền lực và đang nắm quyền lực. Nhưng quyền uy thì không nhất thiết là thuộc người đang nắm giữ cương vị điều hành. Hiện nay không còn tình trạng nể nang, né tránh của quyền lực trước quyền uy, quyền uy tác động không nhỏ đến quyền lực.

Đó chính là nguy cơ. Đọc các văn bản, thấy toát lên một điều là những người viết có ý bứt phá nhưng vẫn bị ám ảnh rất mạnh bởi quyền uy, do đó phải cố gắng làm vừa lòng tất cả mọi người. Vì thế nhiều ý tưởng nêu ra còn mang nặng tính thoả hiệp, nửa vời. Như vậy giải pháp tháo gỡ không chỉ là chuyện nhận thức, mà là bản lĩnh và tính kiên định của những người đang được Đảng và nhân dân giao trách nhiệm quyết định những vấn đề chiến lược của đất nước.

Có một nghịch lý tai hại thường diễn ra: nếu bị quy là tả thì cùng lắm cũng chỉ bị phê bình, thậm chí không hề bị phê bình, chỉ cần lẳng lặng sữa chữa là xong. Rất nhiều đồng chí trong Đảng ta đã mắc những sai lầm “tả khuynh” nghiêm trọng, nhưng không bị kỷ luật, vẫn giữ được quyền uy bởi được đánh giá “kiên định lập trường cách mạng”. Ngược lại, những việc gì mạnh dạn đổi mới, không bằng lòng với cải cách đã đạt được, thì lại rất dễ bị chụp mũ là mất lập trường, chệch hướng, xa rời chủ nghĩa xã hội, ăn phải bả của tư bản. Ai bị quy kết như vậy thường khó chống đỡ hơn, thậm chí ảnh hưởng đến cả sinh mệnh chính trị. Do đó, xu hướng chung của đại đa số hiện nay là : một mặt thì tuy đã nhận thức được con đường phải đi, mặt khác lại lo ngại những quy kết chệch hướng. Đó là lý do làm cho khuynh hướng bảo thủ tuy không nhiều, nhưng sức hù doạ còn có ảnh hưởng. Bộ phận đổi mới, cải cách tuy chiếm một tỷ trọng lớn và ngày càng đông hơn, nhưng không đủ sức thu hút được đại đa số trước những sự hù doạ chệch hướng, mất Đảng, mất Chủ nghĩa xã hội.

Bởi vậy, theo tôi điều quyết định là phải có một cơ chế đảm bảo cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Trung ương có tính chất độc lập cao hơn nữa trong việc lựa chọn, phân tích và quyết định các vấn đề. Sự tham khảo các ý kiến của các đồng chí lão thành cách mạng còn đủ minh mẫn, sáng suốt, các chuyên gia có trí tuệ, trung thực là rất cần thiết. Kể cả những ý kiến mà các đồng chí đang ở cương vị lãnh đạo không đồng ý cũng đều là những gợi ý góp phần để cân nhắc cho có căn cứ hơn. Nhưng tuyệt đối không vì sự nể nang, không để cho bất cứ một quyền uy nào ngăn chặn sự lựa chọn của các đồng chí. Đó chính là nguyên tắc tổ chức của Đảng. Chúng ta sẽ lựa chọn như thế nào đây, giữa một bên là lợi ích của quốc gia, lợi ích của dân tộc, lợi ích của Đảng và một bên là nể nang và thoả mãn những ý kiến riêng của một thiểu số, mà ở đó lợi ích rất có thể chỉ là lợi ích của quyền uy, sự lo sợ chỉ là sự lo sợ mất quyền uy, ẩn náu sau những sự hù doạ mất Đảng, mất Chủ nghĩa xã hội.

Trong sự lựa chọn này, sự can đảm, sự dũng cảm, thẳng thắn và kiên định là rất cần thiết. Trong chiến tranh chống ngoại xâm, nhờ những đức tính đó mà chúng ta chiến thắng và giành được độc lập. Trong sự nghiệp phát triển của đất nước hiện nay, những đức tính đó vẫn là một trong những yếu tố quyết định nhất cho những thắng lợi mai sau.

Trên đây là một số ý kiến tôi mạnh dạn và thẳng thắn nêu lên để cùng nhau suy nghĩ, trao đổi thảo luận để làm sáng tỏ chân lý. Cùng nhau chân thành bàn bạc với ý thức trách nhiệm của người cộng sản, mở rộng dân chủ trong tranh luận để nhận thức đúng sai, đó là thái độ cần có để làm cho công tác tổng kết đạt được kết quả mong muốn.

 Sau đây, tôi trình bày những ý kiến đóng góp cụ thể vào nội dung kinh tế của bảng tổng kết.

 

1. Một số nhận xét chung

             Nhìn chung bản tổng kết này đã cung cấp được khá đầy đủ các số liệu về diễn biến kinh tế trong 10 năm qua ở Việt Nam. Trong đó có nêu bật được nhiều thành tích trong việc phát triển kinh tế, thoát khỏi khủng hoảng, cải thiện cán cân thanh toán, tăng trưởng, đẩy mạnh xuất khẩu, thay đổi cơ cấu kinh tế, đạt được tiến bộ được thế giới công nhận về xoá đói giảm nghèo ...

            Có một số điểm dưới đây cần lưu ý phân tích rõ thêm:

            1. Trong việc phân tích những nguyên nhân của tăng trưởng 20 năm qua, bản tổng kết này chỉ nêu lên khá chung 3 yếu tố quan trọng nhất là: Đảng lãnh đạo, phong trào quần chúng, và đẩy mạnh đầu tư của nước ngoài cũng như đầu tư trong nước. Nếu chỉ nói ở mức như thế thì chưa thấy hết được những nhân tố đặc thù của giai đoạn này:

            * Phải đánh giá thích đáng những sự cố gắng của các cơ sở, các địa phương, sáng tạo ra những hình thức để đột phá khỏi mô hình kinh tế cũ. Ngay từ trước 1986, nhiều địa phương đã dũng cảm, năng động, sáng tạo tìm những lối thoát để khắc phục những khó khăn của mô hình kinh tế cũ. Những công cuộc phá rào của Công ty lương thực Thành phố Hồ Chí Minh, của Long An, của An Giang, cơ chế khoán của Đồ Sơn, những đột phá của các xí nghiệp như Dệt Thành Công, đánh cá Côn Đảo, Vũng Tàu, lụa Nam Định .... , là những sự sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Không có những sáng tạo đó, khó có thể dẫn đến đổi mới từ 1986. Bản tổng kết này cần phải ghi nhận công lao của những người tìm đường và mở đường cho công cuộc đổi mới mà Đảng đã tổng kết và nêu lên trong Nghị quyết của Đại hội VI.

            * Phải tính đến một yếu tố rất quan trọng là có nhiều giá trị bị ngưng đọng trong mô hình kinh tế cũ, khi bước sang thời kỳ đổi mới đã lấy lại giá trị, do đó góp một phần đáng kể vào việc tăng trưởng và nâng cao đời sống của dân cư. Thí dụ rõ rệt là vấn đề nhà đất. Nhà đất trong mô hình kinh tế cũ bị hạ thấp giá trị một cách giả tạo. Bước vào cơ chế thị trường, giá trị của nhà đất tăng lên hàng chục, hàng trăm lần. Đó là một trong những nhân tố tạo ra tăng trưởng, tạo ra thu nhập của một số rất đông dân cư. Từ đó người ta có thể xây nhà, mua sắm, nâng cao mức tiêu dùng ....

            2. Một số bài học kinh nghiệm lớn của những năm qua chưa được trình bày và phân tích đầy đủ, nhất là giai đoạn trước đổi mới, giai đoạn 10 năm 1975 – 1986. Do đó chỉ thấy toàn thành tích và thắng lợi, mà không chú ý đến những nguy cơ vẫn còn đe dọa sự phát triển. Kinh nghiệm của giai đoạn trước đổi mới cho chúng ta một bài học lớn là: có rất nhiều những cái mới, cách làm khác với nếp cũ, sáng tạo, đột phá... , thường đã từng bị ngộ nhận là chệch hướng, là nguy hiểm.... Cách sử xự như thế với những cái mới đã từng có tác dụng kiềm chế sự phát triển, kéo dài thêm khủng hoảng. Từ kinh nghiệm đó cần rút ra bài học trong chính sách kinh tế hiện nay và mai sau là cần phải trân trọng những cái mới, phải khuyến khích những tìm tòi, những hướng đi mới, không nên khư khư giữ nếp cũ hoặc thoả mãn với những gì làm được. Nếu chỉ sợ chệch hướng theo một đánh giá nào đó thì thực tế cầm chắc sẽ là tụt hậu. Vào thời kỳ trước 1986, tất cả những mũi đột phá sáng tạo đều đã từng bị những quan điểm bảo thủ quy kết là chệch hướng, mất Chủ nghĩa xã hội, mất Đảng ... Hay thử tưởng tượng xem, nếu trong những năm gian nan ấy, mà những quy kết đó không kiên trì khắc phục, thì mọi mũi đột phá đều bị ngăn cản. Như vậy, Việt Nam có vượt qua được khủng hoảng và bước vào thời đổi mới toàn diện không ? Từ kinh nghiệm đó, chúng ta phải thẩm tra xem ngày nay đang có những gì cần phải tiếp tục tìm tòi, phải biết tìm mọi cách phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, tạo động lực mới để bứt phá, tìm ra những hướng sáng tạo mới trong các bước đi để bắt kịp được nhịp phát triển của thời đại. Cần phải rạch ròi và sòng phẳng chỉ ra những hướng đi đang còn bị ngộ nhận và quy kết đơn giản là chệch hướng, liệu có đúng là chệch hướng không .... Điều này trong bản báo cáo còn quá mờ nhạt. Chẳng lẽ, phải đuổi kịp với thiên hạ là chệch hướng, để đất nước tụt hậu ngày càng xa là đúng hướng.

            3. Tổng kết 20 năm qua và dự kiến cho 5 năm sắp tới mà chưa đề cập đến nơi đến chốn về một sự thách đố rất lớn là: làm sao kinh tế Việt Nam vươn ra thị trường khu vực và thị trường thế giới, là xác định vị trí của Việt Nam so với các nước trong khu vực. Chúng ta sẽ bị thua thiệt hoặc sẽ tụt hậu nếu trong sự hội nhập sắp tới, Việt Nam chỉ để cho người ta vươn vào mà không tính đến chuyện vươn ra một cách tích cực. Đó là vấn đề cần phải xem xét kỹ hơn.

            Dưới đây xin nêu một số điều cần lưu ý trong tổng kết về đổi mới kinh tế:

2. Những vấn đề và những thách đố

             Những thành tựu to lớn kể trong bản tổng kết kể trên là một cái vốn rất cơ bản cho các bước đi sắp tới. Tuy nhiên hoàn toàn không thể thoả mãn với những thành tựu đó. Rất nhiều ưu thế và thành tựu của nền kinh tế từ thời kỳ sau đổi mới chưa có được những cơ sở vững vàng. Chúng ta chưa thể thoả mãn với mức tăng trưởng 7 - 8 %/năm, với những chỉ tiêu xuất khẩu khá cao, số lượng đầu tư khá lớn ....

            Từ những thành tựu kể trên, rất cần phải phân tích sâu hơn vào thực chất, nhìn thẳng vào sự thật, xác lập một tầm nhìn xa hơn, rộng hơn về những vận hội cũng như những thách thức, những nguy cơ, cạm bẫy đang và sẽ đặt ra cho những năm sắp tới.

            Có thể kể đến mấy vấn đề sau đây :

            1. Sự phát triển kinh tế của chúng ta vẫn tiếp tục lệ thuộc một chiều và quá mức vào thế giới bên ngoài. Trước cách mạng, kinh tế Việt Nam lệ thuộc vào chính sách của thực dân Pháp. Sau cách mạng, trong kháng chiến và cả sau khi giải phóng miền Nam, nền kinh tế của chúng ta lại lệ thuộc vào viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa. Bây giờ ta đã chuyển từng bước sang xây dựng một nền kinh tế tự chủ. Người Việt Nam đã thực hiện được nguyên lý “sống bằng cái mình làm ra”. Tuy nhiên, hiện nay, để chúng ta sống được (sống hiểu theo nghĩa rộng), chúng ta vẫn lệ thuộc một chiều và quá mức về nhiều mặt vào thế giới bên ngoài: lệ thuộc về vốn đầu tư, làm gia công và lệ thuộc vào thương hiệu của các công ty nước ngoài. Nếu vì một tình hình chính trị xã hội nào đó mà các nhà đầu tư rút vốn, thì nền kinh tế Việt Nam sẽ rất dễ lâm vào tình trạng bị động không ít nguy hiểm. Điều quan trọng là chúng ta chưa biết phát huy hết năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân, của doanh nghiệp và sản phẩm dịch vụ còn thấp, làm cho Việt Nam chịu thua thiệt trong quá trình hội nhập.

            Trong quá trình toàn cầu hoá hiện nay, không có nước nào là không có sự lệ thuộc vào thế giới bên ngoài, các quốc gia lệ thuộc lẫn nhau. Vấn đề là ở chỗ làm sao chuyển từ lệ thuộc một chiều và thụ động sang sự lệ thuộc hai chiều và chủ động. Trên hướng đó, chúng ta chưa làm được bao nhiêu.

            2. Những thách đố trong cuộc đua trên thị trường thế giới hiện nay đang đặt ra cho Việt Nam nhiều vấn đề. Lợi thế cạnh tranh của Việt Nam hiện nay rất kém. Nhiều mặt hàng Trung Quốc rẻ hơn và tốt hơn hàng Việt Nam. Trong những lĩnh vực dệt may, chế biến nông sản, thủ công mỹ nghệ, điện máy.... Việt Nam chưa ganh đua nổi với thế giới, thậm chí cũng chưa ganh đua nổi với các nước khác ngay trên thị trường Việt Nam. Không chỉ trong lĩnh vực như xuất khẩu hàng hoá, mà cả trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, nhiều nước trong khu vực vẫn có ưu thế hơn Việt Nam.

            Cũng phải tính rằng hiện nay tốc độ tăng trưởng của Việt Nam là khả quan. Nhưng trong cuộc đua này không chỉ có vấn đề tăng trưởng. Nhiều nước trong khu vực đang có những bước tiến mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực như cải cách thể chế, mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, cải tiến công nghệ, tăng khả năng hội nhập và ứng phó với thị trường thế giới .... Về những mặt đó, chúng ta vẫn đang thua kém nhiều nước trong khu vực.

            3. Cho đến nay Việt Nam vẫn chưa có được những mũi nhọn về kinh tế trên thị trường thế giới. Hàng chục năm qua, chúng ta đã từng rất cố gắng tìm kiếm những mũi nhọn. Nhưng có lẽ chính vì chúng ta xác định những mũi nhọn không đúng nên đến nay chúng ta bị méo mó về mặt kinh tế, không có nổi những cái gọi là mũi nhọn thực sự. Đi vào thị trường thế giới mà không có những mũi nhọn kinh tế thì khó có thể nói đến một sức mạnh lâu bền. Tính chất lệ thuộc, tính chất bị động trong một chừng mực rất lớn cũng chính là vì chúng ta không có điểm mạnh, không có mũi nhọn.

            4. Về công nghiệp, chúng ta đã có những bước phát triển khá. Trong thời kỳ công nghiệp hoá theo mô hình cũ, chúng ta không thành công bao nhiêu, mặc dầu đầu tư lớn. Từ thời kỳ đổi mới, công nghiệp đã có những khởi sắc theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nhưng cho đến nay tất cả nền công nghiệp của Việt Nam vẫn chỉ là công đoạn 2 của nền công nghiệp thế giới. Việt Nam chưa có nổi một hệ thống công nghệ đầu nguồn. Nói đến công nghiệp như cơ sở để phát triển kinh tế, như xương sống của một quốc gia, thì phải nói đến công nghệ đầu nguồn. Không nắm được công nghệ đầu nguồn thì vĩnh viễn lệ thuộc vào những nước có công nghệ đó. Chính đây là vấn đề của công nghiệp hoá hiện nay.

            5. Nông nghiệp chúng ta có mức tăng trưởng rất khá và đạt được những thành tựu đáng kể. Nhưng hiện nay đang vấp phải những vấn đề về quan hệ xã hội, đặc biệt là quan hệ đất đai. Những vấn đề về sở hữu đất đai còn rất nhập nhằng, do đó trong nông nghiệp vẫn chứa đựng tiềm tàng những khả năng bùng nổ rối loạn trong quan hệ xã hội và chính trị.

            Nông nghiệp còn có một vấn đề nữa là hiện nay vẫn chỉ phát triển theo chiều rộng. Chưa có được những liên kết theo ngành dọc, như kiểu mô hình mía đường Lam Sơn, nông trường sông Hậu. Chừng nào chưa cơ cấu lại nông nghiệp theo mối liên kết ngành dọc như ở các nước Tây Âu, chẳng hạn như có người giới thiệu với tôi về “hệ thống filière” ở Pháp, và sau đó tôi có dịp tham quan một hợp tác xã ở một tỉnh của Pháp nhân chuyến đi thăm Pháp năm 1994 và thấy rõ đây như là một tổ hợp lớn rất tự chủ. Sự tự chủ trong sản xuất kinh doanh của nông nghiệp vẫn còn là một vấn đề. Anh em nghiên cứu cho biết Mác từng nói về cách làm kinh tế nông nghiệp có hiệu quả trong chủ nghĩa tư bản; Lê nin phân tích thêm: một trại chủ có đất đai của mình, có công nghệ của mình, có lao động của mình (thuê nhân công) và có thị trường của mình - đó là mô hình mà chúng ta vẫn đang hình thành một cách rất nham nhở về nhiều phương diện. Có thể nói, hiện nay nông nghiệp, nông thôn và nông dân đều có vấn đề cần phải giải quyết một cách cơ bản.

            6. Đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam trong những năm qua là khả quan. Nhưng hầu hết đó là những nhà đầu tư cỡ nhỏ và trung bình. Việt Nam có quá ít những nhà đầu tư cỡ lớn có tầm ảnh hưởng quốc gia và quốc tế. Chính những công ty đầu tư vốn lớn đó là những lực lượng ảnh hưởng mạnh tới thái độ của chính phủ nước họ. Chỉ khi nào đã có những nhà đầu tư cỡ lớn đó, thì thái độ của các chính phủ đối với Việt Nam mới khác đi. Đó cũng chính là một trong những giải pháp để tìm cách “khoá nhau”, “cài nhau” trong các quan hệ quốc tế.

            7. Nơi chứa đựng những bệnh tật nặng nề nhất của Việt Nam chính là hệ thống ngân hàng tài chính và tiền tệ. Có thể nói quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước ngân hàng – các xí nghiệp quốc doanh đang chứa đựng nhiều tiêu cực, nhiều sai phạm, làm méo mó nền kinh tế. Nếu hội nhập, nếu vào WTO, thì những tiêu cực này càng bộc lộ rõ ra. Nếu chúng ta không tự xử lý trước, để quốc tế xử lý, thì hậu quả sẽ rất nặng nề, không chỉ về mặt kinh tế mà về cả mặt chính trị.

            8. Trong công cuộc đổi mới đã nảy sinh nhiều vấn đề xã hội và văn hoá nhức nhối và bức xúc : Những tệ nạn xã hội và tình trạng tham nhũng đã làm méo mó các quan hệ kinh tế. Rất nhiều những lợi ích kinh tế này sinh trong quá trình đổi mới đã bị “ăn hót” bởi những bàn tay tham nhũng, nhân danh quyền lực nhà nước.

            Cùng với những tệ nạn này, là bước chuyển hoá của những nhà kinh doanh từ đậm đà lý tưởng sang quá ham lợi ích. Hiện nay, Việt Nam không còn những nhà kinh doanh đầy lý tưởng như Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà, Đỗ Đình Thiện, Trịnh Văn Bô, Kha Vạn Cân .... Cuộc cải tạo công thương nghiệp đã bóp chết những lý tưởng đó. Phục hồi lại nó không phải là điều dễ dàng. Kinh doanh mà không tính đến lợi ích thì không còn là kinh doanh. Nhưng kinh doanh mà chỉ vì lợi ích thì sẽ chứa sẵn trong nó không ít nguy cơ.

            9. Sự bất cập của hệ thống các thiết chế kinh tế, của bộ máy quản lý nhà nước và đội ngũ các chuyên gia.

            Chúng ta đã có những cố gắng rất nhiều trong việc sửa đổi và hoàn thiện hệ thống các thiết chế. Nhưng tốc độ đó không theo kịp tốc độ phát triển của kinh tế và những thay đổi tình hình của thế giới mà chúng ta đang hội nhập.

            Bộ máy nhà nước hiện nay vẫn rất bất cập trong việc xử lý các vấn đề kinh tế. Đội ngũ chuyên gia đầu đàn của chúng ta tuy đã được đào tạo nhiều năm rất công phu, vừa qua cũng đã được đổi mới rất nhiều, nhưng cho đến nay đó vẫn là một đội ngũ còn ít khả năng tư duy kinh tế, nhìn xa trông rộng, lượng định những vấn đề và lựa chọn những giải pháp khôn ngoan. Các cơ quan nghiên cứu của chúng ta cũng lâm vào tình trạng những “mỹ viện”. Việc mổ xẻ những vấn đề kinh tế chưa đến chốn hoặc chưa được khuyến khích nêu lên những suy nghĩ trung thực. Trong khi đó thì các tổ chức quốc tế thường chỉ đưa ra các “kịch bản” hơn là những chương trình thiết thực với Việt Nam. Hầu hết các nhà nghiên cứu Việt Nam đều lệ thuộc vào kinh phí của các “kịch bản” đó. Nhiều nhà khoa học trong các viện nghiên cứu của Việt Nam, trong số đó có những cán bộ được đào tạo rất có bài bản từ nhiều trường Đại học và Viện nghiên cứu nổi tiếng của nước ngoài, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt, song vẫn chủ yếu đi làm thuê cho các tổ chức nước ngoài. Các tổ chức này khôn khéo khai thác và sử dụng những chuyên gia của Việt Nam vì họ vừa có trình độ cao vừa am hiểu tình hình Việt Nam mà tiền thù lao lại thấp so với lương của người nước ngoài đến đảm trách công việc này. Đây là một sự lãng phí rất lớn, nhiều cán bộ khoa học đã xót xa trình bày nhiều lần trong tổ chức song tình hình vẫn chưa được cải thiện.

            Có thể nói cả bộ máy quản lý, bộ máy hoạch định chiến lược và bộ máy tham mưu của chúng ta vẫn không thay đổi bao nhiêu, vẫn rất già cỗi về mặt cơ chế và về phương pháp tư duy. Đã có nhiều cán bộ tâm huyết lo âu đặt tên cho tình trạng đó là tình trạng “nhũn não”. Đó là một nguy cơ lớn của đất nước.

            Trong nguy cơ “nhũn não” này, có vấn đề quan hệ giữa chính trị với khoa học. Các nhà nghiên cứu của ta hiện nay vẫn bị ám ảnh bởi thân phận không mấy tốt đẹp trước đây của những người có tư duy độc lập. Cách đối xử của lãnh đạo đối với khoa học vẫn chưa khắc phục hết tình trạng đặt hàng, viết theo những ý kiến chỉ đạo trước. Mối quan hệ đó hạn chế khả năng tìm tòi, khai phá, mà rút cuộc là có hại cho Đảng.

            10. Nguyên nhân của các nguyên nhân kể trên chính là bản lĩnh của đội ngũ lãnh đạo từ cấp trung ương đến địa phương. Có lẽ phải kiểm điểm, soát xét sâu và kỹ cách tuyển dụng nhân tài và chính sách cán bộ. Trước đây, trong cuộc đọ sức với thực dân Pháp, giữa nhiều lực lượng khác nhau, nào Trốt-kít, nào Quốc Dân đảng, nào Bảo Hoàng ..., những người lãnh đạo đàn anh của chúng ta đã tỏ ra xuất chúng về tinh thần đấu tranh cách mạng, vững vàng bất khuất trong các nhà tù, sáng suốt trong việc xác định đường lối đấu tranh, trong lãnh đạo quần chúng ...., và do đó được lịch sử lựa chọn như đội quân tiên phong của sự nghiệp cách mạng. Nhưng sau khi Đảng ta được lịch sử lựa chọn, chúng ta đã tự lựa chọn mình theo phương pháp khép kín. Điều đó tưởng như là một cách tốt nhất để bảo vệ Đảng, bảo vệ đội ngũ cán bộ, thì thực ra có thể nó đã dẫn tới sự còi cọc. Nếu không nhìn thẳng vào sự thật đó để sửa chữa thì sự còi cọc này còn kéo dài. Nguy cơ cũng là ở chỗ đó.

            Do thiếu tự tin nên thời gian qua, Đảng ta mất khả năng quyết đoán với một tư duy đổi mới trước những vấn đề cấp bách, vì thế đã bỏ lỡ không ít cơ hội. Vụ không ký hiệp ước thương mại với Mỹ ở New Zeeland, không vào WTO trước Trung Quốc một bước thể hiện sự ngập ngừng đó. Cứ như thế này thì rồi ra những nước khác sẽ lợi dụng sự chậm chân của ta để nhích lên một nước cờ cho họ.

 3. Suy nghĩ về một số định hướng cho tương lai

             Bàn về những giải pháp cho tương lai không phải là điều dễ dàng. Một cá nhân càng không thể nào hoạch định được một chiến lược quốc gia, cùng lắm thì cũng chỉ là gợi mở những suy nghĩ để tham khảo trong việc hoạch định chiến lược đó. Dưới đây là mấy gợi mở theo ý nghĩa như vậy.

            Trước khi đề xuất những ý kiến khác nhau để cân nhắc, có một số ý yếu tố rất cơ bản sau đây mà dù lựa chọn chiến lược nào thì cũng phải có :

            1. Phải tăng cường và thay đổi lại định hướng tình báo kinh tế.

            Tình báo kinh tế cho đến nay vẫn được hiểu là một hành động địch ta. Phương thức đó đã lỗi thời, tuy không phải là không cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Bây giờ nội dung quan trọng nhất của nó (về kinh tế) không còn chuyện địch ta, mà là chuyện hợp tác. Trước đây, phần lớn các nước thường sử dụng tình báo kinh tế theo hướng đánh cắp thông tin của đối phương, bảo vệ bí mật kinh tế của mình. Từ vài thập kỷ trở lại đây, nhiều nước đã có những chuyển biến lớn. Trong đó có Anh, Trung Quốc, Nhật là những nước đi đầu. Có nhà khoa học nói với tôi, chữ “economic intelligence” phải được hiểu như là sự thám thính mọi nơi trên thế giới để tìm ra những cơ hội, những kẽ hở nhằm phát triển kinh tế quốc gia. Như vậy, công tác tình báo không nhất thiết là phản gián, mà thực chất là những hoạt động khai phá, thăm dò và hoạch định chính sách.

            Về mặt này, Việt Nam còn rất yếu. Nếu chúng ta định mở rộng quan hệ với thế giới, ta không thể không nắm bắt được những vận hội ở những nước mà ta muốn quan hệ, phát triển những khả năng đầu tư, xuất khẩu, nhập khẩu, hợp tác. Ngoài ra còn rất cần phải nắm vững luật pháp, xu hướng chính trị, những dự kiến trong tương lai của đối tác.

            Công tác tình báo kinh tế theo hướng này không nhất thiết phải để ở Bộ Công an. Có thể đặt nó ở Bộ Ngoại giao, phối hợp với các sứ quán nhưng cũng có thể để ở một cơ quan nghiên cứu. Quy mô của tổ chức này không cần lớn. Quan trọng nhất là những “cái đầu” thông minh và nhạy bén cảm nhận được mọi cái mới trên toàn cầu.

            Để làm việc đó cần có 3 điều kiện rất quan trọng: 1/ Tập hợp thông tin. 2/ Độc lập trong việc xử lý các thông tin trao đổi với những người hữu quan, kể cả phía đối tác. 3/ Đưa ra những dự kiến có tính chất tiền chính sách.

            Có thể nói rằng một bộ phận như thế chưa có ở Việt Nam. Như thế là quá muộn nhưng muộn còn hơn không. Phải bắt đầu nghĩ tới một tổ chức mang chức năng như trên.

            2. Phải hình thành một mạng lưới vận động lobby.

            Không có một nước nào trên thế giới muốn phát triển kinh tế mà lại không có lobby. Hoạt động này ở Việt Nam tuy đã có, nhưng cho đến nay còn rất yếu. Mạng lưới này cần phải được giăng ra gần như khắp thế giới. Không nên hiểu rằng khi cần giải quyết vấn đề ở nước nào thì phải có hoạt động lobby ở nước đó. Thông qua những nước khác, thông qua toàn đại sứ của các nước khác, có thể làm được việc này. Đây là một nghệ thuật, là một khoa học, mà cho đến nay chúng ta còn rất ít chú ý. Những vụ như cá ba sa, nước đến chân chúng ta mới nhảy, làm lobby không kịp. Trong những quan hệ với Trung Quốc, chúng ta hầu như không có lobby. Với chính phủ Nhật, hoạt động này còn hết sức sơ sài, tuy không phải không có những khả năng thuận lợi.

            Một trong những chỗ dựa trong lĩnh vực lobby là Việt kiều. Có lẽ khía cạnh hữu ích của Việt kiều không phải chỉ là vốn đầu tư, cũng không phải chỉ là những kiến thức về kinh tế, khoa học kỹ thuật, mà là những khả năng và kinh nghiệm lobby của họ. Về mặt này, trong chính sách với Việt kiều chúng ta chưa lưu ý đúng mức. Kể cả đối với những người Việt Nam chống cộng, ta cũng có thể dùng như những con dao hai lưỡi. Họ có thể có ích cho chúng ta vì họ có ảnh hưởng chính trị trong một giới nhất định ở phương Tây. Nếu khéo lợi dụng thì không phải họ không có khả năng làm lobby một cách vô thức cho ta.

             3. Phải dọn dẹp môi trường kinh tế trong nước.

            Như đã nói ở trên, công cuộc đổi mới về cơ bản là một thành tựu rất lớn, nhưng vẫn còn tồn tại từ di sản cũ và có nảy sinh thêm một số hiện tượng gây ô nhiễm môi trường kinh tế. Trong đó không chỉ có tình trạng tham nhũng, mà còn có những trục trặc về thể chế, về luật pháp, về tập tục. Nếu không thanh toán được những sự ô nhiễm đó, khó có thể kêu gọi đầu tư, du lich, hợp tác, ở tầm cỡ lớn.

            Về điều này, hình như chúng ta còn chưa có được một sự thẳng thắn thừa nhận mà vẫn ít nhiều còn thái độ lảng tránh.

 

4. Một số gợi ý về chủ trương để tham khảo

            1. Phải rèn tập cho xã hội Việt Nam một thói quen của đời sống dân chủ.

            Trong đó quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do nghiên cứu... cần được mở rộng hơn nữa. Hiện nay có nhiều vấn đề thực ra không còn đang coi là huý kỵ nữa, nhưng vẫn là nghiêm cấm đối với giới nghiên cứu. Tại sao ở Trung Quốc có thể làm phim về thời Cách mạng văn hoá mà ở Việt Nam không thể viết chuyện, làm phim về thời kỳ cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản. Văn kiện công khai của Đảng đã phê phán những sai lầm đó. Sự kiêng kị này sẽ có tác hại giống như một con người không quen với sương gió, bị giam kín lâu ngày trong nhà, khi đi ra đường rất dễ bị cảm cúm. Chúng ta phải từng bước tháo gỡ những kiêng kị. Phải làm sao để cho xã hội Việt Nam có sức đề kháng cao với việc phê phán tất cả những sai trái. Những huý kị hiện nay tưởng là cách bảo vệ tốt cho hệ thống chính trị của chúng ta, thực ra nó là một cách giữ gìn có tính chất bị động, không tháo gỡ ra mà chỉ che dấu sự thật, tạo thêm ra những ung nhọt trong nội bộ.

             2. Thay đổi chỗ dựa quốc tế, nói đúng hơn là thay đổi cách dựa trong quan hệ quốc tế.

            Trước đây, Việt Nam tìm chỗ dựa trong phe xã hội chủ nghĩa. Trong kháng chiến chống Pháp chỗ dựa trước hết là Liên Xô và Trung Quốc. Trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ, Việt Nam tìm chỗ dựa ở phe xã hội chủ nghĩa, ở phong trào giải phóng dân tộc. Trong một chừng mực đáng kể ta đã thúc đẩy được phong trào phản chiến và tạo ra được chỗ dựa rất quan trọng ở ngay các nước tư bản chủ nghĩa. Đó là một sự lựa chọn tài tình, sáng suốt ít có trên thế giới.

            Ngày nay, khi thế giới hai cực không còn nữa, thì Việt Nam cũng như hầu hết các nước khác khó còn có thể tìm được một chỗ dựa cụ thể ở một nước nào, một phe nào.

            Chỗ dựa và cách dựa bây giờ khác đi. Bây giờ không phải đi tìm một cường quốc nào đó, mà là cài đặt những lực lượng khác nhau vào một thế thuận lợi cho Việt Nam. Cách đó nhiều nước đã làm.

            * Nhật trước đây cũng từng dựa vào Mỹ, lấy việc đối đầu với Liên Xô để đòi Mỹ trả công về nhiều phương diện. Bây giờ chỗ dựa kiểu đó cũng không còn. Nhật đã cài đặt các mối quan hệ giữa các nước đó với nhau, khai thác các mâu thuẫn, củng cố các mối quan hệ bằng lợi ích song phương, tạo ra lợi ích cho đối phương để tìm kiếm lợi ích từ đối phương.

            * Trung Quốc cũng vậy. Từ chỗ đối đầu với Mỹ chuyển sang dựa vào Mỹ để đối đầu với Liên Xô, đến nay Trung Quốc cũng không còn tìm một chỗ dựa nào khác ngoài việc lợi dụng các mối quan hệ quốc tế. Trung Quốc đã cài đặt những quan hệ với Mỹ bằng cách xuất nhập khẩu hàng hoá rẻ, tạo ra ở Mỹ một thói quen và một nhu cầu về nhập hàng Trung Quốc, về đầu tư ngay trên đất Trung Quốc, về xuất khẩu sang Trung Quốc. Lợi ích đó của tư bản Mỹ đã khoá tay chính giới Mỹ trong nhiều trường hợp. Đó là cách dựa mới.

            * Tây Âu cũng vậy.

            Việt Nam cần đi theo cách đó. Tình thế của Việt Nam khác với các cường quốc. Việt Nam là một nước tương đối nhỏ, thế lực kinh tế không lớn, thị trường không hấp dẫn tới mức không có không được. Do đó, cách xử lý của Việt Nam phải hết sức tinh vi, phải nghiên cứu kỹ càng, tính toán nhiều bề. Những khả năng đó không phải là không có. Ta đã có một bài học lịch sử là đối sách của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kỳ 1945 –1946. Thực lực của Việt Minh chưa có gì lớn. Nhưng Hồ Chí Minh đã cài đặt được một tình thế quốc tế thuận lợi cho Việt Minh. Dùng những lực lượng OSS của Mỹ để hăm doạ quân Tưởng Giới Thạch. Kéo Bảo Đại vào làm Cố vấn Chính phủ để làm mất một chỗ dựa của các lực lượng khác. Đưa Quốc dân đảng vào Quốc hội để vô hiệu hoá một phần lớn khả năng đối lập của họ. Ký Hiệp ước với Pháp để đuổi quân Tưởng ra khỏi đất nước, tránh mối nguy cơ lớn nhất lúc đó, đồng thời trì hoãn một cuộc chiến không thể tránh khỏi với Pháp.

            Việt Nam ta hiện nay phải lựa chọn: Hoặc không có một chỗ dựa nào nữa, hoặc phải tìm một tình thế quốc tế tối ưu cho mình. Về điều này, cần phải có một đội ngũ chuyên gia giỏi, có tri thức rất tốt về tình hình quốc tế, biết tính toán rất kỹ các phương án. Không thể chỉ nói như là đã giải quyết được vấn đề.

            Trên hướng này có thể nêu một ý tưởng như sau làm thí dụ:

            Tìm cách lôi kéo một số công ty rất lớn của phương Tây, những công ty có tầm ảnh hưởng lớn đến chính sách đối nội cũng như đối ngoại của các nước mà công ty mang quốc tịch. Nếu lôi kéo được những công ty này vào cuộc, thì có khi về kinh tế chưa chắc có lợi ngay, nhưng sẽ được những cái lợi lớn hơn về chính trị và quan hệ quốc tế. Để làm việc này phải vận dụng cả ba yếu tố “cần” kể trên: tình báo kinh tế, làm lobby, dọn dẹp môi trường. Nếu làm tốt các yêu cầu đó, ta có thể cài đặt những mâu thuẫn giữa họ với nhau, giữa họ với những người khác, để làm sao kích thích sự tranh giành uy tín, qua đó mà họ gắn bó với ta. Quan hệ kinh tế đơn thuần giữa các công ty này (liên quan đến thị trường Việt Nam) có khi chỉ để giải quyết những ảnh hưởng khác trên thị trường quốc tế, thì Việt Nam lại là một vấn đề, do đó trọng lượng của ta được nâng lên, từ đó có được những tầm ảnh hưởng nhất định tới các chính phủ phương Tây.

             3. Phải tìm hiểu nhiều cách khác nhau để nâng tỷ lệ thu hồi giá trị sản phẩm của Việt Nam trong giá trị của các sản phẩm liên doanh.

            Chúng ta biết, thí dụ như trong ngành dệt may, 80% nguyên vật liệu là nhập khẩu. Do đó, cũng khoảng 70-80% giá trị của một chiếc áo, một chiếc quần là vào tay người nước ngoài. Nếu tính trên con số thống kê về GDP hoặc sản phẩm xuất khẩu thì có vẻ rất cao, nhưng phần mà người Việt Nam được hưởng không phản ánh đầy đủ trong đó. Trên rất nhiều lĩnh vực, kể cả những hàng nông sản xuất khẩu, vẫn còn một tỷ lệ rất cao của giá sản phẩm là thuộc về những công ty ngoài Việt Nam. Nếu chúng ta lọc dầu sớm hơn, thì dầu thô có thể chuyển thành dầu thương phẩm và chúng ta đỡ một khoản tiền rất lớn trong nhập khẩu. Nhờ đó trong giá bán của hàng loạt sản phẩm Việt Nam, tỷ lệ năng lượng sẽ không thuộc các công ty nước ngoài, mà sẽ thuộc GDP thực sự của Việt Nam.

            Trong lĩnh vực dệt may, chúng ta vẫn nấp bóng những công ty lớn có uy tín trên thị trường quốc tế để đưa hàng của chúng ta vào. Theo cách đi đó, chúng ta chỉ kiếm được 15-20% giá trị của mỗi cái áo, cái quần. Để thoát khỏi thân phận ấy, không phải chi đơn giản là làm ra những mặt hàng đẹp, nguyên liệu tốt. Vấn đề là thương hiệu của Việt Nam. Nhưng cái làm nên thương hiệu thì không phải chỉ là chất lượng sản phẩm. Nó là loại “nhân duyên” của rất nhiều yếu tố. Việt Nam phải suy nghĩ, tính toán, điều tra và khám phá để tìm ra những mối “nhân duyên” này. Hướng đó không phải là không khả thi.

             4. Khai thác tiềm lực có sẵn với cách nhìn mới.

            Để tìm kiếm những sức mạnh nội lực, trước đây và cho đến nay chúng ta vẫn hướng theo cách đi tìm những khả năng mới, những tiềm lực mới, những tài nguyên mới ....Thiết nghĩ từ nay, đồng thời với việc tìm cái mới, cần “khai thác” một “tiềm lực” rất to lớn đã có sẵn, nhưng bị chiếm đoạt. Tiềm lực đó không cần tìm ở đâu xa mà có thể giành lại ngay cho đất nước, cho nhân dân, cho nền kinh tế, cho xã hội: Đó là những của cải, những nguồn tài nguyên rất lớn đã bị nạn tham nhũng vơ vét, tệ lãng phí hủy hoại.

            Tham nhũng ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước khác, nhất là các nước XHCN cũ, phát triển dưới hai dạng đều rất nguy hiểm: a. Tham nhũng của cải vật chất thông qua quyền hành. b. Tham nhũng những giá trị trí tuệ, những danh vị cao quí bằng chủ nghĩa cơ hội. Những giá trị đó là nguồn sức mạnh rất to lớn của đất nước. Tiềm năng đó đã bị đánh cắp một cách phi pháp. Phải kiên quyết giành lại cho xã hội những giá trị này. Chỉ riêng việc đó cũng tạo ra một sức mạnh rất lớn về nội lực.

            Vừa qua Chính phủ đã thành lập một cơ quan chống tham nhũng. Nhưng đó mới là cơ quan chống tham nhũng về kinh tế. Còn một thứ tham nhũng nữa là tham nhũng về danh tước, chiếm lấy những cương vị bằng cách chạy vạy, mua bán. Như đã nói, rất nhiều danh vị giáo sư, tiến sĩ, phó tiến sĩ, thạc sĩ ...., không có thực chất, thực tài. Đưa những con người như thế vào các vị trí điều hành đất nước, điều hành những cơ quan ở cấp đầu não của quốc gia thì thật là nguy hiểm.

            Đương nhiên cả hai loại tham nhũng kể trên hiện nay đang có cương vị đáng kể trong xã hội. Họ sẵn sàng cao giọng bảo vệ chế độ, tích cực chống bọn phản động tấn công vào Đảng, vào chủ nghĩa xã hội! Thực ra là họ sợ hãi cho lợi ích bất chính của họ. Nếu tiến hành chống hai loại tham nhũng này, có thể những loại người này từ chỗ kiên quyết bảo vệ Đảng, bảo vệ CNXH chuyển thành phần tử bất mãn. Đó là điều cần tính toán cẩn thận.

            5. Về những mũi nhọn trong phát triển kinh tế.

Nếu trên thực tiễn kinh tế chưa có mũi nhọn, thì không nên miễn cưỡng đặt ra ngay những mũi nhọn. Phải có thời gian và công sức đích đáng để tạo ra mũi nhọn.

             6. Rất cần chú ý tới mối liên kết chặt chẽ với các nước khối ASEAN.

            Ở trên có nói rằng thời đại ngày nay thế giới không còn chia làm hai cực nên không còn chỗ dựa, hiểu theo nghĩa thời chiến tranh lạnh. Hiện nay, trong thực tế, chúng ta chỉ có ASEAN là chỗ dựa trực tiếp. Thời gian vừa qua, chúng ta chưa chú ý đúng mức để khai thác khả năng này. Với các nước ASEAN, ngoài các quan hệ kinh tế chúng ta cần tạo ra những lợi ích văn hoá và chính trị của các nước đó để “phòng co”. Trong quan hệ với các nước này, không nhất thiết phải quá chú ý tới những lợi ích kinh tế. Có khi Việt Nam chịu thiệt đi một phần nào đó, để kiếm những cái lợi lớn hơn.

            7. Điều rất bức bách là phải chuẩn bị đưa được những người của Việt Nam vào các chức vị cao trong các tổ chức kinh tế quốc tế.

            Mấy chục năm vừa qua chúng ta rất lơ là việc này. Việt Nam không phải không có nhân tài. Nhưng ở Việt Nam mấy thập kỷ qua nhân tài chỉ được dùng như những người “điếu đóm” cho lãnh đạo. Nhân tài không có điều kiện phát triển. Hiện nay Thái Lan đã là Chủ tịch của WTO. Họ còn định ứng cử chức Tổng thư ký Liên hợp quốc. Ở hầu hết các quốc gia Asean và nhiều nước đang phát triển khác trên thế giới, nếu cho họ chọn người vào các vị trí như thế thì họ sẵn sàng có ngay được khoảng 5-10 người. Thử hỏi hiện nay nếu các tổ chức quốc tế đặt vấn đề với Việt Nam chọn một người nào đó làm Chủ tịch WTO hoặc Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc hoặc một uỷ viên nào đó, liệu có chọn được ai không? Đó là vấn đề.

            Nếu chúng ta đưa được một người nào đó vào các vị trí của các tổ chức quốc tế thì trọng lượng của Việt Nam sẽ tăng lên. Một người Việt Nam giữ được một vị trí như thế có thể tạo ra những lợi ích nhiều tỷ đôla. Còn về mặt chính trị và quan hệ quốc tế thì không thể đo bằng đôla được. Nếu nước nào có người làm chủ tịch WTO chẳng hạn, Trung Quốc cũng phải kiêng nể, Nhật Bản cũng phải kiêng nể, Mỹ cũng phải kiêng nể. Việt Nam là một nước có một số đặc điểm lịch sử rất dễ được thế giới chấp nhận một cương vị như thế. Nếu chúng ta khéo tuyên truyền vận động và điều quan trọng nhất là có người sẵn sàng chuẩn bị, thì 5-10 năm tới chúng ta có thể đạt mục tiêu này.

             8. Mạnh dạn mở ra những hướng mới.

Hai mươi năm đổi mới vừa qua đã mở ra rất nhiều tiềm năng cho đất nước. Những tiềm năng mà trong cơ chế cũ không phát huy được thì trong cơ chế mới đã bừng nở nhanh chóng, có nhiều khía cạnh bất ngờ. Thí dụ: trước đây vì chúng ta phải trả nợ cho các nước bạn nên phải đưa lao động đi nước ngoài. Hiện nay, ta đã tích luỹ được ít nhiều về vốn, những nhà kinh doanh Việt Nam đã nắm bắt được một số kinh nghiệm trong một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Thay vì cho người lao động Việt Nam đi làm thuê cho nước ngoài, sống trong cảnh bị ngược đãi, tủi nhục tại sao chúng ta không nghĩ tới việc mở đường cho các nhà kinh doanh Việt Nam ra hoạt động ở một số nước trên thế giới, nhất là các nước kém phát triển. Chúng ta đã bắt đầu có đầu tư sang một vài nước ngoài, song còn quá ít ỏi. Hiện nay, nhiều nước Châu Phi và có thể một số nước Đông Nam á như Lào, Campuchia, Mianma, Cu ba ...., là những nơi đang rất khó khăn về kinh tế, về vốn, về nhân lực trong sản xuất, kinh doanh. Trong khi Việt Nam bị nhiều cường quốc kinh tế khác lấn chiếm thị trường, tại sao Việt Nam không nghĩ tới việc bành trướng thị trường đầu tư và sản xuất tới những nước khác? Nên chăng có thể học tập con đường mà chúa Nguyễn Hoàng đã đi trước đây để tạo ra sức mạnh của mình, đối đầu với phương Bắc, bành trướng về phía Nam, chiêu dân, lập ấp, mở mang bờ cõi. Tất nhiên chúng ta hoàn toàn không có ý định đi “xâm lược” một nước nào. Nhưng có rất nhiều nước, đặc biệt là Châu Phi hiện nay đất đai còn rất rộng, nhiều vùng còn bỏ hoang. Tuy điều kiện thiên nhiên rất khắc nghiệt, nhưng nếu đầu tư khai thác nguồn nước từ trong lòng đất chọn các giống cây thích hợp, thì có thể phát triển các hình thức đồn điền sinh lợi cao. Điều đặc biệt thuận lợi cho Việt Nam là quan hệ với các dân tộc Châu Phi đã có từ lâu. Trong khi người Châu Âu không có khả năng khai thác nhiều, vì đụng chạm tới một quan hệ chính trị nặng nề đã để lại từ thời kỳ chủ nghĩa thực dân. Nếu Việt Nam có quan hệ tốt với chính phủ, với nhân dân địa phương, hợp tác giúp họ cùng phát triển, cùng có lợi thì việc mở mang kinh doanh như sản xuất các mặt hàng công nghiệp dân dụng, sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi ...., là điều hoàn toàn khả thi. Nếu phát triển theo hướng đó, chúng ta có thể nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, sử dụng được một nguồn lao động nông nghiệp đang dư thừa của Việt Nam, chứ không chỉ là xuất khẩu lao động. Thị trường Châu Phi rất rộng lớn, nhưng sức mua thì rất thấp. Những mặt hàng mà chúng ta đầu tư sản xuất tại đó với giá rẻ, chất lượng bình dân có thể tìm được những sức mua tương ứng.

            Trên hướng này, nếu chúng ta không đi nhanh, thì người Trung Quốc sẽ chiếm hết địa bàn của chúng ta. Cuộc thăm của Hồ Cẩm Đào vừa qua ở Cuba, ký kết giữa Trung Quốc với các nước ASEAN ở Vientiane, cho thấy sự nhạy bén của họ, ta cần phải đặc biệt lưu ý.

            Để thực hiện hướng phát triển này nên để cho các công ty cỡ nhỏ đi thăm dò trước (kể cả tư nhân) thí dụ lập trang trại, những công ty xây cất, trạm y tế, trường tiểu học, chế biến nông sản, làm một số mặt hàng công nghiệp như sành sứ, đồ mộc, dệt may. Con đường này cũng cần phải có những nhà nghiên cứu đi trước, rồi đến các nhà kinh doanh. Nhà nước tìm mọi cách hỗ trợ. Hướng này cần được nghiên cứu tỉ mỉ để hình thành một chiến lược phát triển.

             Trên đây là những suy nghĩ của tôi đóng góp vào bản tổng kết, mong được các đồng chí tham khảo.

 

Võ Văn Kiệt